Cau-Trang-Tien

Một số danh lam thắng cảnh tại Huế

Thành phố Huế:
Diện tích: 5.054km²
Dân số: 1.136.100 người (năm 2005)

Các quận, huyện:
- Thành phố: Huế
- Huyện: Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, Nam Ðông, A Lưới.
- Dân tộc: Việt (Kinh), Tà Ôi, Cơ Tu, Bru Vân Kiều, Hoa.

Vài nét lịch sử Huế

Nằm giữa miền Trung Việt Nam, với tọa độ 16o đến 16,45o độ vĩ Bắc, 107,03o đến 108,08o kinh đông, Thừa Thiên Huế có diện tích 5.009,2km2, Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, Nam giáp thành phố Ðà Nẵng, Ðông giáp biển Ðông, Tây có dải Trường Sơn hùng vĩ và giáp nước bạn Lào. Biên giới Việt Lào đoạn đi qua tỉnh Thừa Thiên Huế dài khoảng 88 km. Bờ biển có chiều dài 128km với Cảng Thuận An và Cảng nưóc sâu Chân Mây. Trên dải đất nhỏ hẹp này, địa hình tự nhiên được cấu tạo hết sức đa dạng, gồm núi cao, rừng sâu, vùng gò đồi trung du, vùng đồng bằng, vùng đầm phá nước lợ, vùng duyên hải ven biển... Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, không có mùa đông và mùa khô rõ rệt. Hàng năm có những tháng liên tục chịu gió đông bắc, bão biển từng cơn và mưa rét kéo dài. Thừa Thiên Huế hiện có 8 huyện và thành phố Huế (cố đô của Việt Nam, đô thị lọai 2, một trung tâm văn hóa, giáo dục, y tế và du lịch quan trọng của cả nước).

Trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam, Thừa Thiên Huế, Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế là vùng đất có lịch sử lâu đời. Những phát hiện khảo cổ học gần đây cho thấy rõ dấu vết của người xưa trên mãnh đất này. Những di vật như rìu đá, đồ gốm được tìm thấy ở Phụ Ổ, Bàu Ðưng ( Hương Chữ, Hương Trà) cho phép khẳng định đây là các di tích có niên đại cách đây trên dưới 4.000 năm. Những chiếc rìu đá được phát hiện trên nhiều địa bàn khác nhau, đặc biệt tại các xã Hồng Bắc, Hồng Vân, Hồng Hạ, Hồng Thủy, Bắc Sơn (A Lưới); Phong Thu (Phong Ðiền) đã chứng minh sự có mặt của con người ở vùng đất này trên dưới 5.000 năm. Di tích khảo cổ quan trọng gắn liền với nền văn hóa Sa Hùynh được tìm thấy lần đầu tiên tại TT Huế năm 1987 là di tích Cồn Ràng ( La Chữ, Hương Chữ, Hương Trà) nói lên rằng chủ nhân của nền văn hóa này đã đạt đến trình độ cao trong đời sống vật chất lẫn tinh thần cách đây trên dưới 2.500 năm. Dấu ấn này còn được tìm thấy ở Cửa Thiềng năm 1988 (Phú Ốc, Tứ Hạ, Hương Trà). Cùng với văn hóa Sa Hùynh, Thừa Thiên Huế còn sự hiện diện của văn hóa Ðông Sơn. Năm 1994, trống đồng lọai 1 đã được phát hiện ở Phong Mỹ, Phong Ðiền. Ðây là một trong những di vật độc đáo của nền văn hóa Việt cổ.

Các cứ liệu xưa cho biết, từ xa xưa Thừa Thiên Huế từng là địa bàn giao tiếp của những cộng đồng cư dân mang nhiều sắc thái văn hóa khác nhau, cùng cư trú và cùng phát triển.. Trong thời kỳ phát triển của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, tương truyền Thừa Thiên Huế vốn là một vùng đất của bộ Việt Thường. Ðầu thời kỳ Bắc thuộc, lại thuộc về Tượng Quận. Năm 116 trước Công nguyên, quận Nhật Nam ra đời thay thế cho Tượng Quận. Sau đó trong suốt thời gian dài gần 12 thế kỷ, vùng đất này là địa đầu phía Bắc của Vương quốc Champa độc lập. Sau chiến thắng Bạch Ðằng lịch sử của Ngô Quyền (năm 938); Ðại Việt trở thành quốc gia độc lập và qua nhiều thế kỷ phát triển, biên giới Ðại Việt đã mở rộng dần về phía Nam. Năm 1306, công chúa Huyền Trân em gái vua Trần Anh Tông, " nước non ngàn dặm ra đi" làm dâu vương quốc Champa; Vua Chế Mân dâng tiếp hai châu Ô, Rí ( Lý) để làm sính lễ. Năm sau, vua Trần đổi hai châu này thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị. Thừa Thiên Huế trở thành địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hóa lớn của phương Ðông với nền văn hóa của các cư dân bản địa.

Kinh thành Huế

Kinh thành Huế được xây dựng gần 30 năm (từ 1803 đến 1832), là một dãy thành lũy dài cao 6,60m, dày 21m, với chu vi gần 9.000m. Trên mặt thành ngày xưa có tới 24 pháo đài.Bên ngoài, dọc theo bờ thành có hào sâu bảo vệ. Kinh thành liên lạc với bên ngoài qua 8 cửa trổ theo 8 hướng: Chính Ðông, Chính Tây, Chính Nam, Chính Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Ðông Bắc, Ðông Nam. Ngoài ra hai bên Kỳ Ðài còn có hai cửa Thể Nhơn và Quảng Ðức. Ngoài ra còn có hai cửa bằng đường thủy ở hai đầu sông Ngự Hà là Ðông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan. Phía Hoàng Thành ở góc đông bắc có một thành nhỏ, thời Gia Long gọi là Thái Bình, đến thời Minh Mạng đổi thành Trấn Bình Ðài có chu vi gần 1km, bên ngoài có hào rộng ăn thông với hào của Hoàng Thành.

Theo nguyên tắc địa lý phong thủy của Ðông Phương và thuyết âm dương-ngũ hành của Dịch học. Kinh thành quay mặt về hướng Nam, dùng núi Ngự Bình làm tiền án và dùng 2 hòn đảo nhỏ trên sông Hương (Cồn Hến - Cồn Dã Viên) làm rồng chầu hổ phục (Tả Thanh Long - Hữu Bạch Hổ) để bảo vệ đế đô. Dòng Sông Hương chảy ngang trước mặt dùng làm Minh Ðường. Bốn mặt kinh thành đều được bao bọc bởi hệ thống sông ngòi gọi là sông Hộ Thành.

Ở trong lòng Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành được gọi chung là Ðại Nội. Hoàng Thành dùng để bảo vệ khu vực các cơ quan lễ nghi, chính trị quan trọng nhất của triều đình và các điện thờ. Tử Cấm thành bảo vệ nơi làm việc, ăn ở và sinh họat hàng ngày của nhà vua và gia đình..

Ðược xây dựng từ 1804-1833, Ðại Nội có mặt bằng xây dựng theo hình gần vuông, mặt trước và mặt sau dài 622m, mặt trái và phải 604m. Thành xung quanh xây bằng gạch (cao 4,16m, dày 1,04m), bên ngoài có hệ thống hộ thành hào, gọi là Kim Thủy Hồ, để bảo vệ thành. Mỗi mặt trổ một cửa để ra vào: Ngọ Môn (trước), Hòa Bình (sau), Hiển Nhơn (trái), Chương Ðức (phải). Cửa chính của Ngọ Môn chỉ dành cho vua đi.

Với hơn 100 công trình kiến trúc đẹp, mặt bằng Ðại Nội chia thành nhiều khu vực khác nhau:
• Từ Ngọ Môn đến Ðiện Thái Hòa làm nơi cử hành các lễ lớn của triều đình.
• Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu và Ðiện Phụng Tiên là nơi thờ các vua chúa nhà Nguyễn.
• Cung Diên Thọ và Cung Trường Sanh là nơi ở của Hoàng Thái Hậu và Thái Hoàng Thái Hậu.
• Phủ Nội Vụ là nhà kho tàng trữ đồ quý, xưởng chế tạo đồ dùng hoàng gia.
• Vườn Cơ Hạ và Ðiện Khâm Văn là nơi các Hoàng tử học tập và chơi đùa.

Tử Cấm Thành

Có mặt bằng cũng gần vuông, cao 3,7m, mặt trước và sau dài 324m; mặt trái và phải dài 290m. Quanh thành trổ 10 cửa. Ðại Cung Môn là cửa chính ở mặt tiền chỉ dành cho vua ra vào, hiện nay đã hư hại hòan toàn. Bức bình phong to rộng dăng ngang sau lưng đIện Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày) là dấu hiệu cho biết thế giới sau đó chỉ dành riêng cho vua và gia đình. Trong đó có hàng trăm cung nữ và hàng chục thái giám thường trú để phục vụ hoàng gia. Trong khu vực này có gần 50 công trình kiến trúc vàng son lộng lẫy bao gồm: điện Càn Thành (nơi vua ở), điện Khôn Thái (nơi vợ chính vua ở), Duyệt Thị Ðường (nhà hát), Thượng Thiện (nơi nấu ăn cho vua), Thái Bình Lâu (nơi vua đọc sách),.điện Quang Minh (nơi ở các hòang tử), điện Trinh Minh (nơi các hòang hậu ở), điện Kiến trung, vườn Cẩm Uyển...

Hệ thống kiến trúc ở Ðại Nội đã được hoạch định theo những nguyên tắc chặt chẽ, đăng đối: chia ra các vị trí tiền, hậu, tả, hữu, thượng, hạ, chiêu mục tất cả đều nhất quán. Nó thể hiện những khái niệm về triết lý chính trị Nho giáo phương đông. Phần lớn các công trình kiến trúc ở đây đều làm bằng gỗ quý , nhưng cũng không chịu đựng nổi với thiên tai, khí hậu khắc nghiệt hàng thế kỷ qua và các cuộc chiến tranh tàn phá nặng nề. Cho nên một số công trình đã bị hư hỏng, các di tích quý này hiện nay đang được Nhà nước quan tâm đầu tư kinh phí để phục hồi, tôn tạo lại từng bước.

Ngọ Môn

Vừa là cổng chính, vừa là bộ mặt Ðại Nội, được xây dựng vào năm 1833 khi Minh Mạng cho quy hoạch lại mặt bằng và hoàn chỉnh hóa tổng thể kiến trúc trong Ðại Nội. Ngọ Môn là một tổng thế kiến trúc đa dạng, phía trên là lầu Ngũ Phụng với chức năng như một lễ đài, dùng để tổ chức một số lễ nghi trọng thể như duyệt binh, lễ xướng tên những người thi đỗ tiến sĩ, lễ ban sóc hàng năm và đây cũng là nơi diễn ra lễ thoái vị của vua Bảo Ðại - vị vua cuối cùng của Việt Nam vào ngày 30/8/1945.

Theo kinh dịch thì các vị vua bao giờ cũng quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ, cho nên ngay từ thời Gia Long (1802-1819), khi xây dựng kinh đô Huế, các nhà kiến trúc đã cho hệ thống thành quách và cung điện ở vào vị thế tọa càn hướng tốn (Tây Bắc - Ðông Nam) cũng có nghĩa là hướng Bắc - Nam, thuộc Ngọ trên trục Tý - Ngọ, do đó Minh Mạng đã đặt tên cho chiếc cổng mới xây ở chính giữa mặt trước hoàng thành là Ngọ Môn, thay cho tên cũ là Nam Khuyết đài.

Hệ thống nền đài cao gần 5m, xây trên mặt bằng chữ U vuông góc, đáy dài 57,77m và cánh 27,06m. Ở phần giữa của nền đài trổ ba lối đi. Ngọ Môn dành cho vua đi, Tả và Hữu Giáp Môn dành cho các quan văn võ theo hầu trong đoàn ngự đạo. Tả và Hữu Dịch môn nằm ở hai cánh của nền đài, dành cho lính tráng và voi ngựa đi. Hệ thống lầu ngũ phụng có hai tầng, lầu gồm chín bộ mái lợp ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly, lầu dựng trên nền cao 1,14m xây trên nền đài. Ở tầng trên, mái lầu chia ra thành 9 bộ khác nhau. Tổng thể Ngọ Môn nhìn từ xa như một tòa lâu đài đồ sộ nguy nga, nhưng khi tiếp cận, nó trở thành một công trình kiến trúc xinh xắn, đáng yêu, gần gũi với phong cảnh thiên nhiên và tâm hồn, tình cảm của con người xứ Huế.

Điện Thái Hoà

Trong phạm vị hoàng cung triều Nguyễn, Ðiện Thái Hòa là công trình kiến trúc quan trọng nhất xét về nhiều mặt: chức năng, vị trí, ý nghĩa lịch sử, giá trị văn hóa nghệ thuật. Ðiện Thái Hòa là địa điểm sinh hoạt quan trọng nhất của triều đình nhà Nguyễn. Ðây là nơi diễn ra các lễ đại triều hàng tháng (vào ngày 1 và 15 âm lịch) hoặc các đại lễ khác như lễ Ðăng Quang (vua lên ngôi), lễ Vạn Thọ (sinh nhật vua), lễ Hưng Quốc Khánh Niệm... với sự tham gia của vua, hoàng thân, quốc thích và các vị đại thần. Về lịch sử xây dựng ngôi điện này, có thể chia làm ba thời kỳ chính, trong mỗi thời kỳ đều có một số thay đổi, cải tiến về kiến trúc trang trí...

Thời Gia Long Ðiện Thái Hòa được khởi công xây dựng vào 21/2/1805 và hoàn thành vào tháng 10/1805. Thời Minh Mạng, vào tháng Giêng năm Quý Tỵ, tức tháng 3/1833, khi tái quy hoạch và hoàn chỉnh hóa hệ thống kiến trúc cung đình Ðại Nội, vua Minh Mạng đã cho dời điện Thái Hòa hơi dé về phía Nam, đồ sộ và rộng lớn. Thời Khải Ðịnh, năm 1923, vua Khải Ðịnh cho đại tu điện Thái Hòa để chuẩn bị cho lễ Tứ tuần đại khánh tiết. Trong đợt tu sửa lớn này, có một số bộ phận kiến trúc ngôi điện này được thay đổi và làm mới. Trên mái điện, người ta đắp nổi 9 con rồng với một nghệ thuật cực kỳ tinh xảo. Cuối gian giữa của chính điện là ngai vàng được chạm khắc công phu, phía trên là bửu tán được trang trí cực kỳ lộng lẫy. Tám mươi cây cột gỗ lim khá lớn đều vẽ hình rồng vờn mây, màu vàng son rực rỡ.

Qua kiến trúc và trang trí của Ðiện Thái Hòa, chúng ta thấy người xưa đã gửi gắm vào đó khá nhiều ý tứ sâu xa đượm màu sắc đạo lý truyền thống phương Ðông. Bên cạnh ngôn ngữ kiến trúc mang tính triết học, tòa cung điện này còn ghi lại nhiều ngôn ngữ văn học với 297 ô hộc khắc chạm và đúc nổi thơ chữ Hán, nói lên một trong những nét đặc sắc của văn hóa Phú Xuân đầu thế kỷ XIX. Phía trước Ðiện Thái Hoà là sân Ðại Triều, hồ Thái Dịch và cầu Trung Ðạo. Sân Ðại triều chia làm 3 tầng, là nơi dành cho các quan từ nhất phẩm đến cửu phẩm sắp hàng làm lễ. thứ tự các quan được đánh dấu bởi hai hàng phẩm sơn (bia đá nhỏ) dựng ở hai bên sân.

Ðiện Thái Hòa là một trong những tòa cung điện tiêu biểu được xây dựng khá sớm ở Huế (1805), mang phong cách độc đáo của địa phương, cũng là cung điện rộng lớn, uy nghi, tráng lệ nhất trong hệ thống kiến trúc cung đình còn lại ở Huế.

Cửu Đỉnh

Ðặt tại sân Thế Miếu, là sản phẩm độc đáo, tinh xảo, được Bộ Công đúc tại Huế từ cuối năm 1835-đầu 1837. Cửu Ðỉnh biểu hiện ước mơ về sự trường tồn mãi mãi của triều đinh nhà Nguyễn và sự giàu đẹp của đất nước. Ðiều đó được thể hiện rất rõ trong việc đặt tên gọi cũng như tầm vóc và các hoa văn chạm nổi trên Cửu Ðỉnh. Mỗi đỉnh có khắc một tên riêng bằng chữ Hán, lấy từ miếu hiệu (tên để thờ cúng) của một vị vua nhà Nguyễn. Và cái đỉnh đó được xem là biểu tượng của vị vua đó. Cao Ðỉnh (vua Gia Long) ở vị trí chính giữa, Ðỉnh hai bên trái phải lần lượt là: Nhân Ðỉnh (vua Minh Mạng), Chương Ðỉnh ( vua Thiệu Trị), Anh Ðỉnh (vua Tự Ðức), Nghị Ðỉnh (vua Kiến Phúc), Thuần Ðỉnh (vua Ðồng Khánh), Tuyên Ðỉnh (vua Khải Ðịnh), Dụ Ðỉnh, Huyền Ðỉnh (chưa tượng trưng cho ông vua nào cả, mặc dù triều Nguyễn còn có 6 vị vua khác).

Giá trị của 9 Ðỉnh trước hết ở tầm vóc to lớn và trình độ đúc đồng tinh xảo của các nghệ nhân đúc đồng Huế. Cao Ðỉnh cao 2,5m, nặng 2601kg-là đỉnh cao và nặng nhất. Huyền Ðỉnh cao 2,31m, nặng 1935kg - là đỉnh thấp và nhẹ nhất. Quanh hông đỉnh đều chạm trỗ 17 cảnh vật. Như vậy có tới 153 cảnh vật được chạm nổi trên Cửu Ðỉnh. Ðó là các hình ảnh: núi, sông, trăng, sao, cây cối, hoa, súc vật, vũ khí, xe, thuyền...Có thể xem 153 bức chạm khắc ấy là 153 bức tranh. Ta sẽ thấy sông Hồng trên Tuyên Ðỉnh, sông Cửu Long trên Huyền Ðỉnh, sông Hương trên Nhân Ðỉnh. Chín đỉnh được sắp thành một hàng ngang dưới thềm Hiển Lâm Các, nằm theo thứ tự các án thờ trong Thế Miếu. Riêng Cao Ðỉnh được đặt nhích về phía trước 8 đỉnh kia một khoảng gần 3m, vì vua Minh Mạng cho rằng Gia Long là vị vua có công lớn nhất đối với triều đại.

Sông Hương

Sông Hương bắt nguồn từ dãy Trường Sơn hùng vĩ, hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch hợp lưu nơi ngã ba Tuần (dân gian còn gọi Bảng Lảng), từ đây sông Hương theo hướng Nam Bắc qua điện Hòn Chén, Ngọc Trản, chuyển Tây Bắc, uốn quanh bãi Nguyệt Biều, Lương Quán, xuôi về phía Ðông Bắc, lặng lẽ trôi về Huế trong dư vang của Trường Sơn, đi qua chốn yên giấc ngàn thu của các vua Nguyễn. Dòng sông mềm như tấm lụa, sắc nước xanh thẳm, tiếp tục cuộc hành trình đi qua Cồn Hến và những làng quê yên ả, qua ngã ba Sình mảnh đất thủ phủ Châu Hóa xưa rồi đổ ra phá Tam Giang hòa vào lòng biển cả.

Dòng sông trắng-Lá cây xanh, Sông Hương như "thanh kiếm bạc dựng giữa trời xanh". Biết bao tao nhân mặc khách lênh đênh trên quãng sông này với một "phiến trăng sầu" "Hương Giang nhất phiến nguyệt, Kim cổ hứa đa sầu..." Sông Hương quả là món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho Huế. Và nếu bỗng dưng Sông Hương biến mất, thành phố vẫn còn, thì có còn ai buồn nhắc đến Huế nữa không.

Núi Ngự Bình

Cùng với Sông Hương, núi Ngự Bình là biểu tượng tuyệt vời của Huế. Người ta vẫn gọi Huế là miền Hương Ngự. Núi Ngự Bình chỉ cao 105m. trước năm 1802 gọi là Bằng Sơn. Vua Gia Long chọn Bằng Sơn làm tiền án của Kinh Thành và đặt tên mới là Ngự Bình. Ngày xưa cũng như bây giờ, núi Ngự Bình rợp bóng thông xanh là nơi thưởng ngọan cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời. Ðứng trên đỉnh núi, có thể nhìn thấy sông nước, cỏ cây, cung điện, chùa chiền, lăng tẩm, đất trời tươi đẹp Huế, và xa hơn là dãi Trường Sơn trùng trùng điệp điệp, là biển Ðông xanh ngắt một màu.

Chùa Thiên Mụ

Cách trung tâm Thành phố khoảng 5km về phía Tây, chùa Thiên Mụ (hay Linh Mụ) tọa lạc trên một ngọn đồi không cao lắm, mặt chính hướng ra sông Hương. Chùa được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1601, thời chúa Nguyễn Hoàng và đã được tu sửa nhiều lần. Những công trình chính của Chùa có điện Ðại Hùng, đình Hương Nguyện, tháp Phước Duyên (bảy tầng, cao trên 21m, mỗi tầng thờ một vị Phật tổ), Ðại hồng chung (cao 2,50m, nặng trên 2.000kg) ...Hiện nay chùa vẫn còn bảo lưu nhiều di vật rất quí của những thế kỷ trước. Chùa Linh Mụ xứng đáng là một danh lam cổ tự vào bậc nhất của cả nước.

Lăng tẩm các vua triều Nguyễn

Cách đây 80 năm, một người phương Tây, Ph.Eberhard đã viết: Huế là một trung tâm du lịch hấp dẫn, nơi có kinh thành, hoàng thành và lăng tẩm, có sức cuốn hút sự chú ý đặc biệt đối với du khách và các nhà mỹ thuật. Chỉ riêng lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn không thôi cũng đủ có giá trị đối với cuộc du lịch rồi Triều Nguyễn (1802-1945) có đến 13 vua, nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp khác nhau, nên hiện nay ở Huế chỉ có 7 khu lăng tẩm do triều đình xây dựng.

Ðó là các lăng vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức (ở đây còn có lăng mộ vua Kiến Phúc), Dục Ðức (ở đây còn có mộ hai vua Thành Thái, Duy Tân), Ðồng Khánh và Khải Ðịnh. Theo ý đồ quy hoạch kiến trúc kinh đô nhà Nguyễn vào đầu thế kỷ XIX, các khu lăng tẩm ấy nằm trong một vùng khá riêng biệt ở phía Tây Huế.

Kiến trúc cung đình nhà Nguyễn rất tuân thủ các nguyên tắc phong thủy. Lăng tẩm nào cũng phải theo đúng những quy luật liên quan đến các thực thể địa lý thiên nhiên như: sông, núi, ao hồ, khe suối và nhất là huyền cung ở trung tâm điểm của mặt bằng kiến trúc phải tọa lạc đúng long mạch. Bố cục mặt bằng khu lăng tẩm nào cũng chia làm hai phần chính: phần lăng và phần tẩm.

Khu vực lăng là khu vực chôn thi hài nhà vua, khu vực tẩm là chỗ xây nhiều miếu, điện, lầu gác, đình, tạ,... để nhà vua lúc còn sống thỉnh thoảng rời hoàng cung lên đây tiêu khiển. Chính vì vậy, mỗi lăng tẩm Huế, chẳng những là di tích lịch sử văn hóa mà còn là một thắng cảnh, một đóa hoa nghệ thuật kiến trúc giữa chốn núi đồi xứ Huế. Vì lăng tẩm Huế có được những giá trị văn hóa nghệ thuật cao như thế nên ngày từ năm 1957, trong quyển Les Merveilles du Monde được Viện sĩ Hàn lâm Pháp Jean Cocteau đề tựa, một nhóm gồm 15 tác giả phương Tây xếp lăng tẩm các vua nhà Nguyễn vào hàng kỳ quan của thế giới.

Lăng Tự Ðức (Khiêm Lăng)

Lăng được dựng ở hữu ngạn sông Hương, trên núi Dương Xuân, làng Dương Xuân Thượng (cách Huế chừng 8 km), giữa một rừng thông bát ngát. Khởi công năm 1864, hoàn thành năm 1867, trên khoảng diện tích 475 ha. Toàn bộ lăng được bao quanh bằng một bức tường dày uốn lượn theo địa hình đồi núi. Kiến trúc trong lăng ngoài những yếu tố cần thiết của một lăng còn có những công trình kiến trúc phù hợp với nơi ở của vua Tự Ðức.

Lăng Khải Ðịnh (Ứng Lăng)

Lăng được xây dựng từ 1920 đến 1931, trên đỉnh núi Châu Chữ, cách Huế 10km. Nếu các lăng khác được dựng trên một vùng núi non trập trùng rộng hàng trăm héc ta, thì lăng Khải Ðịnh như một toà lâu đài đồ sộ xây bên triền núi. Từ dưới chân núi lên tới Tẩm điện, qua 109 bậc. Vật liệu xây dựng lăng Khải Ðịnh chủ yếu là sắt thép bê tông và sành sứ. Nét nổi bật trong lăng Khải Ðịnh chính là nghệ thuật khảm sành, sứ trang trí lộng lẫy trên mặt tường, cột nhà và trần nhà. Ðây là sự kết hợp giữa hai nền kiến trúc, văn hoá Ðông - Tây rất tinh xảo.

Di chuyển lên trên
7 ngày
Du lịch Bhutan Tết Bính Thân 2016: Paro - Thimphu - Punakha
Khởi hành theo yêu cầu, Giá 59.500.000 đ
3 ngày
Tour du lịch Đà Lạt: Hà Nội - Đà Lạt - Hà Nội
Khởi hành theo yêu cầu, Giá 8.060.000 đ

Miếu Bà Chúa Xứ, di tích nổi tiếng ở Núi Sam, Châu Đốc, An Giang

Bà Chúa Xứ là nhân vật truyền thuyết được thờ tự ở núi Sam (Châu Đốc, An Giang). Miếu Bà Chúa Xứ là một di tích nổi tiếng ở Núi Sam, Châu Đốc. Hàng...

Chùa Tây Thiên - Không chỉ có cảnh đẹp

Khu danh thắng Tây Thiên được coi là vùng đất thiêng của dãy Tam Đảo – Vĩnh Phúc, nơi tập trung rất nhiều chùa, đền, miếu cổ… Do đó, cứ mỗi độ xuân...

Nét văn hóa đặc trưng của người Việt (người Kinh)

Tên gọi khác : Kinh. Dân số : 65.795.718 người, chiếm 86,83% dân số toàn quốc. Ngôn ngữ : Người Việt có tiếng nói và chữ viết riêng. Tiếng Việt nằm...

Một số danh lam thắng cảnh tại Đà Lạt

Đà Lạt có khí hậu mát mẻ quanh năm. Thành phố này rất thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng và là nơi lý tưởng để các cặp vợ chồng son tận hưởng tuần...

Thị xã Hòn Gai, Quảng Ninh

Thị xã Hòn Gai là tên gọi trước đây của TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Về cơ bản thành phố Hạ Long được chia thành 2 khu chính: Khu trung tâm văn hóa...

An Sơn Miếu, nơi thờ bà Phi Yến tại Côn Đảo

"Gió đưa cây Cải về trời, rau Răm ở lại chịu đời đắng cay" Miếu Bà Phi Yến hay còn gọi là An Sơn Miếu là nơi thờ bà Phi Yến - Thứ phi của chúa Nguyễn...

Di tích Chùa Hoa Yên, Yên Tử, Quảng Ninh

Chùa Hoa Yên là ngôi chùa lớn và to đẹp nhất trong Khu di tích danh thắng Yên Tử, Quảng Ninh. Đây là nơi chứng kiến đức vua Trần Nhân Tông sau khi...

Chùa Thiên Mụ, một trong những kiến trúc tôn giáo cổ và đẹp nhất ở Huế

Chùa Thiên Mụ nằm trên đồi Hà Khê, xã Hương Long, TP. Huế. Chùa là một trong những kiến trúc tôn giáo cổ nhất và đẹp nhất ở thành phố Huế. Câu...

Mai Châu (Hòa Bình), phố trong sương

Xin được mượn lời 2 câu thơ trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói/ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” để nói về vẻ đẹp...

Bà Nà - Núi Chúa, điểm du lịch nổi tiếng tại Đà Nẵng

Bà Nà - Núi Chúa là một dãy núi thuộc huyện Hòa Vang cao 1.487m so với mực nước biển. Bà Nà cách Đà Nẵng 40km về phía Tây Nam. Nhiệt độ trung bình...

Đầu xuân đi hội Yên Tử, Quảng Ninh

Cách Hà Nội khoảng 125km, du khách chỉ mất hơn 3h đi xe ô tô để đến được Khu Danh thắng núi Yên Tử thuộc thành phố Uông Bí, Quảng Ninh. Hội xuân Yên...

Chùa Suối Tắm, Yên Tử - Truyền thuyết và lịch sử

Quá dốc Cửa Ngăn chừng trăm mét, du khách hành hương vào Suối Tắm. Từ trên cao nhìn xuống, ngôi chùa thấp thoáng dưới vòm cây đại thụ. Các ngôi chùa...

Chùa Linh Ứng, ngôi chùa lớn nhất ở Đà Nẵng

Tọa lạc trên ngọn đồi mang hình con rùa hướng ra biển cả, lưng tựa cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn, Chùa Linh Ứng - Bãi Bụt trên bán đảo Sơn Trà vừa...

Mỹ Khê (Đà Nẵng), một trong những bãi biển quyến rũ nhất hành tinh

Đà Nẵng được thiên nhiên ưu ái ban tặng những bãi tắm liên hoàn hoang sơ đẹp như tranh vẽ và Mỹ Khê là một trong những bãi biển đẹp nhất Đà Nẵng (năm...

Khu di tích lịch sử Côn Đảo (Nhà tù Côn Đảo)

Khu di tích lịch sử Côn Đảo (Nhà tù Côn Đảo) thuộc huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, gồm hệ thống nhà tù ở Côn Đảo và các nghĩa trang thuộc hệ...