Vườn quốc gia Grand Canyon, bang Arizona, Hoa Kỳ

14:11 | 16/12/2017

Vườn quốc gia Grand Canyon là một khu bảo tồn ở tiểu bang Arizona. Đây là một trong những vườn quốc gia sớm nhất của Hoa Kỳ. Diện tích vườn quốc gia này là 4,927km2. Ngày 26/2/1919, Vườn quốc gia này được thành lập, đây là một sự thành công của cuộc vận động bảo vệ môi trường, làm cho dự án xây dựng đập ngăn sông Colorado bị hủy bỏ.

Vườn quốc gia Grand Canyon là một hệ thống bao gồm nhiều nhánh với nhiều hẻm núi do nước chảy làm xói mòn, có chiều rộng và độ sâu khác nhau. Vách núi bao gồm các lớp đá và tầng địa chất đủ màu sắc có từ thời sơ khai. Một số nơi còn có rừng tạo ra một hệ thông sinh thái rất phong phú.

Trong hệ thống sinh thái này, người ta phát hiện được 1.500 loại thảo mộc, 355 loại chim, 89 loại động vật có vú, 47 loại động vật bò sát, 9 loại động vật lưỡng cư và 17 loại cá khác nhau.

Đặc biệt, Vườn quốc gia này có một địa danh nổi tiếng thế giới là Hẻm núi lớn Grand Canyon. Đây là một hẻm núi cuả sông Colorado. Hẻm núi lớn là một khe núi dốc được tạo ra bởi sông Colorado ở bang Arizona. Grand Canyon nằm trọn gần như trong Vườn quốc gia Grand Canyon. Hẻm núi Grand Canyon bị sông Colorado cắt và tạo nên một khe núi hàng triệu năm về trước, với độ dài 446km, rộng từ 0,4 đến 24km và sâu hơn 1.600m. Hơn 2 tỷ năm của lịch sử Trái đất đã được hé lộ ra nhờ sông Colorado cắt qua từng lớp đất của Cao nguyên Colorado. Theo các ghi chép thì người châu Âu đã nhìn thấy Grand Canyon năm 1540. Các cuộc thám hiểm khoa học đầu tiên ở hẻm núi lớn này bắt đầu từ cuối những năm 1860. Các lớp đá lộ ra ở khu vực này như là “một cuốn sách lịch sử vĩ đại”.

Các nhà nghiên cứu cho rằng Grand Canyon có niên đại gần 2 triệu năm tuổi. Những hòn đá tạo nên hẻm núi lớn nhất thế giới này có xuất xứ từ vùng bờ biển phía Đông giáp với Đại Tây Dương và nguồn gốc lượng cát bao phủ 350.000km2 miền Tây nước Mỹ, bồi đắp nên các tảng sa thạch ở Grand Canyon khoảng 150 đến 300 triệu năm trước.


Trước đây, các nhà địa chất học thường nhìn vào cấu trúc sa thạch để xác định thành phần của đá, hoặc dựa vào hướng gió thổi, nước chảy để tìm nguồn gốc của sa thạch. Nhưng với các đụn cát cổ đại trong khe núi lớn thì phương pháp này không cho kết quả xác đáng.

Thay vào đó, các nhà nghiên cứu xem xét kỹ lưỡng các hạt ziricon, một khoáng chất có chứa urani trong sa thạch. Khi ziricon kết tinh từ macma tan chảy, urani phóng xạ sẽ bắt đầu phân rã thành chì. Lượng chì trong hạt ziricon có thể tiết lộ thời gian hình thành.

Thời tiết tại đây vô cùng khắc nghiệt. 1.300 năm trước, người Hisatsinom (hay người Anasazi) di cư đến những nơi sâu nhất của hẻm núi này để canh tác cây bông, ngũ cốc, đậu và bí ngô dọc chỗ đất được đắp cao và vùng đất cát dọc bờ sông Colorado.

Trồng trọt tại Hẻm núi lớn không khác gì trồng cây trên sao Hoả, nhưng người Anasazi đã thành công một cách đáng ngạc nhiên; nơi đây không hề có nước, thời tiết băng giá nhưng họ biết rõ từng ngóc ngách, từng nguồn nước, nơi ẩn núp và các con đường mòn ở đây. Từ năm 700 đến năm 1200 trước công nguyên - dài gấp đôi thời gian người Mỹ hiện diện - họ đã biết rõ nơi này như lòng bàn tay.

Các nhà khảo cổ ngày nay cho rằng chắc chắn có những lớp người đã sinh sống tại Hẻm núi lớn trước người Anasazi hàng nghìn năm, đó là người da đỏ Bắc Mỹ cổ. Hình vẽ khắc đá được phát hiện đã cho thấy cách những người da đỏ cổ xưa sinh sông, săn bắn. Sau khi người Anasazi di cư ra khỏi vùng hẻm núi thì các thổ dân khác như Hopi, Zuni, Southern Paiute, Hualapai, Havasupai, Navajo... xuất hiện.

Đốì với thổ dân Hopi, hẻm núi này là “ongtupka” - nghĩa là quê hương tổ tiên; còn đốì với người Southern Paiute lại là “puazant tuvip” - có nghĩa vùng đất thánh; người Tây Apache thì gọi đơn giản là “gedacho” - đỉnh núi.

 


Cũ hơn