Kinh thành Huế, Thừa Thiên - Huế

10:32 | 22/02/2018

Huế là một vùng đất cổ. Vào thế kỷ XIII, vùng đất thơ mộng này đã hoà nhập vào Đại Việt như một món quà tặng, là của hồi môn của vua Chiêm khi cưới công chúa Huyền Trân nhà Trần. Phong cảnh tươi đẹp, địa hình hiểm trở đã tạo cho Huế có một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Trên thế giới hiếm thấy một đô thị cổ nào như Huế được bảo lưu còn tương đối nguyên vẹn diện mạo của một kinh đô thời quân chủ. Có người coi Huế như một đô thị thời Trung cổ, bởi Huế chưa bị hiện đại hóa, công nghiệp hóa một cách hấp tấp không có quy hoạch như nhiều thành phố khác trên thế giới. Trong mấy ngàn năm lập quốc, cho đến thế kỷ XVI, từ thời dựng nước cho đến Đinh, Lê, Lý, Trần đều đóng đô tại những nơi thuộc miền Bắc. Từ giữa thế kỷ XVI, do biến động lịch sử, chúa Nguyễn Hoàng đã chọn Phú Xuân làm kinh đô xứ Đàng Trong (1558). Cuối thế kỷ XVIII, được vua Quang Trung chọn làm kinh đô triều đại Tây Sơn (1788-1802), vua Gia Long chọn làm kinh đô của triều Nguyễn (1802-1945). Trong hơn 400 năm Thừa Thiên-Huế nói chung và Huế nói riêng là trung tâm chính trị, văn hóa của nhà nước phong kiến Việt Nam. Năm 1788, để chuẩn bị Bắc tiến đánh đuổi quân xâm lược nhà Thanh ra khỏi kinh thành Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Quang Trung, lấy Phú Xuân, vốn là thủ phủ Đàng Trong làm thủ đô của đất nước. Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Phúc Ánh thành lập Vương triều Nguyễn, lấy hiệu là Gia Long, đóng đô ở Huế.

Các công trình kiến trúc, các di sản của Huế còn lại đến hôm nay trong thành phố Huế, nằm dọc theo đôi bờ sông Hương, được UNESCO ghi vào danh sách Di sản văn hóa thế giới năm 1993, đều được xây dựng kế tiếp nhau dưới các triều đại vua Nguyễn. Kinh thành Huế nằm ở phía Bắc sông Hương, vốn xưa là thủ phủ Phú Xuân được mở rộng trên dải đất của tám làng thuộc hai tổng An Vân và Phú Xuân thuộc huyện Hương Trà. Kinh thành Huế được bao bọc bởi ba vòng thành cùng chung một trục hướng, lấy núi Ngự Bình bên bờ Nam làm tiền án, lấy Cồn Hến làm Tả Thanh Long, Cồn Dã Viên làm Hữu Bạch Hổ. Diện tích toàn kinh thành là 520ha. Thành ngoài cùng gọi là kinh thành, theo dạng gần như vuông, chu vi 9.950m. Để phù hợp với việc phòng thủ mỗi khi có biến, các cạnh đều được xây theo hình “dích dắc” theo kiểu thành Vauban,1 một kiểu thành phòng ngự hiện đại của châu Âu thời bấy giờ. Thành cao 6,60m, mặt trên rộng 6m, dưới chân rộng 21m, có tiết diện hình thang vuông. Mặt ngoài thẳng đứng, mặt trong nghiêng thoải. Cốt thành nhồi đất nện chặt. Hai lớp áo ngoài xây bằng gạch vồ dày 1,5m. Trên 4 mặt thành bố trí 21 pháo đài, quanh thành đặt 400 pháo nhẵn và đường di chuyển binh lính lúc lâm trận. Ngoài thành còn có hào sâu, rộng bao quanh gọi là hộ thành hào, thông với sông Hương, tạo nên một tuyến phòng ngự vững chắc, gây khó khăn cho kẻ thù khi tấn công, vừa tạo thành một mạng lưới giao thông thuận tiện cho việc tiến, thoái. Bốn phía thành có mười một cửa ra vào. Các cổng thành có cấu trúc đặc biệt, xây tầng cao, tiện cho việc quan sát không gian bên ngoài. Để đảm bảo độ bền chắc, gạch xây theo kiểu múi cam, tạo nên vòm cuốn, cao vững chãi mà trông thấy nhẹ nhàng. Trong kinh thành có hàng trăm hạng mục công trình đồ sộ như Lục Bộ, Tôn Nhơn, Xã Tắc... Thành giữa gọi là Hoàng thành, xây gạch cao 4m, dày 1m, có hào sâu, rộng bao bọc bên ngoài. Để đi qua hào sâu này, người ta cho xây mười chiếc cầu uốn cong đi vào Hoàng thành. Hoàng thành có hình gần vuông, mỗi cạnh dài khoảng 600m, có bốn cửa: Ngọ Môn (mặt trước) cửa Nam, Hoà Bình (cửa sau) cửa Bắc, Hiển Nhơn (bên trái) cửa Đông, Chương Đức (bên phải) cửa Tây. Mặt bằng Hoàng Thành chia làm chín khu vực ứng với chín ô của Hà Đồ trong kinh dịch:
Ô chính diện: Từ cửa Ngọ Môn qua sân chầu đến điện Thái Hoà, nơi cử hành Đại lễ, mỗi lúc nhà vua ngự triều.
Ô số 2: bên phải, là khu miếu thờ các vua Nguyễn gồm Hiển Lâm Các, Thế Miếu, Hưng Miếu...
Ô số 3: bên trái, khu điện thờ các chúa Nguyễn gồm Thái Miếu, Triệu Miếu...
Ô số 4: Ở giữa, bên trái, khu nội phủ, vườn Cơ Hạ.
Ô số 5: Ở giữa, bên phải, khu điện Phụng Tiên, cung Diên Thọ, cung Trường Sinh, Trường Du Tạ... dành cho nữ giới và là nơi ở của Hoàng Thái hậu và Thái Hoàng Thái hậu.
Ô số 6, 7, 8: từ trái qua phải là hồ Bắc Đẩu, còn gọi là Hồ Hoà Bình.
Ô số 9: nằm ở vị trí trung tâm của Hoàng thành là Tử Cấm thành, có hình vuông, mỗi cạnh dài chừng 300m, xây gạch cao 3,7m, dày 0,8m, có mười cửa mở ra bốn phía. Trong Tử Cấm thành có 40 kiến trúc đồ sộ, nhưng nay đã bị hư hỏng, làm cho di sản Huế nghèo kiệt. Trong số hàng chục lăng tẩm, đền chùa, cung điện... đã có những di tích bị phá hủy hoàn toàn như: điện Cần Chánh, điện Càn Thành, điện Kiến Trung, Khôn Thái... Lăng Gia Long. Một số di tích bị hư hỏng nặng như: Ngọ Môn, điện Thái Hoà, Tả, Hữu Vu, lăng Tự Đức, lăng Minh Mạng, Thiệu Trị... Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam và sự giúp đỡ có hiệu quả của UNESCO, một số công trình quan trọng đã được sửa chữa lớn.


Cũ hơn Mới hơn