Tỵ Thử Sơn Trang ở Thừa Đức, lâm viên danh tiếng của hoàng tộc Trung Quốc

14:00 | 28/02/2018

Tỵ thử sơn Trang, Trung Quốc

Tỵ Thử Sơn Trang là một lâm viên danh tiếng dành cho hoàng tộc Trung Quốc ở huyện Thừa Đức, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Tên ban đầu của sơn trang là Hành Cung Nhiệt Hà hay còn gọi là Thừa Đức Ly Cung (cung điện dành cho vua nghỉ ngơi). Sơn trang được xây dựng từ năm 1703 đến 1792, trải dài 89 năm với ba đời vua: Khang Hy, Ung Chính, Càn Long.
Về mặt cấu trúc, sơn trang được chia làm hai phần: Tỵ Thử Sơn Trang và khu Ngoại Miếu.
Tỵ Thử Sơn Trang: rộng 564ha, có vòng tường xây đá dài 10km, cao từ 2,5m-6m tuỳ theo địa hình, gồm hai khu: cung điện và khu ngự uyển. Khu cung điện nằm ở phía Nam, bố trí đăng đối, nghiêm cẩn, phong cách thiên về mộc mạc, hiện có thu thập và trưng bày hơn 20.000 hiện vật liên quan đến cuộc sống sinh hoạt của hoàng đế. Khu ngự uyển thì phân làm 3 khu: khu hồ ao phía Đông Nam, khu núi rừng phía Tây Bắc và khu thảo nguyên phía Đông Bắc. Với địa hình hết sức đa dạng, phong phú, Tỵ Thử Sơn Trang được xem là hình ảnh thu nhỏ của đất nước Trung Quốc.
Khu Ngoại Miếu thường được gọi là Ngoại Bát Miếu (thực ra có đến 12 toà miếu) được xây trong thời Khang Hy và Càn Long. Nhưng theo quy định của “Nhiệt Hà viên đình tắc lệ” thì “Ba khu miếu tự là La Hán Đường, Quảng An Tự, Phổ Lạc Tự không thiết đặt Lạt Ma trụ trì. Phổ Hựu Tự thì cho thuộc vào Phổ Ninh Tự. 8 khu miếu còn lại có Lạt Ma (tức Hoà thượng) do triều đình cử đến, hàng tháng được cấp ngân lượng”. Nghĩa là chỉ có 8 miếu tự chính thức có bổ nhiệm chức Lạt Ma trụ trì. Danh xưng “Ngoại Bát miếu” cũng từ đó mà ra, sau này trở thành từ chỉ chung các khu miếu tự bên ngoài sơn trang.
Hai khu miếu tự được xây dựng đầu tiên năm 1713 để kỷ niệm sinh nhật lần 60 của Khang Hy và để tiếp đón các thân vương Mông Cổ là Bác Nhân Tự và Bác Thiện Tự. Hai khu miếu tự này nằm trên khu đất bằng phẳng phía bờ đối diện sông Võ Liệt, phía Đông sơn trang, cấu trúc kiểu “Già lam thất đường thức”, tựa như phiên bản của Cùng Lãm Tự trong hành cung Khách Thích Hà Đồn.
Mười khu miếu tự còn lại nằm phía Đông và Bắc sơn trang đều do Càn Long xây dựng trong khoảng thời gian 1755-1780. cứ khoảng 3-5 năm lại xây 1 toà: Phổ Ninh Tự (1755-1758), Phổ Hựu Tự (1759), An Viễn Miếu (1764-1765), Phổ Lạc Tự (1766-1767), Phổ Đà Tông Thừa Miếu (1767-1771), Quảng An Tự (1772), Thù Tượng Tự (1774-1775), La Hán Đường (1774), Di Đà Phúc Thọ Miếu (1779) và Quảng Duyên Tự (1779).
Điểm độc đáo là các toà miếu tự trên đều có sự kết hợp nhiều phong cách kiến trúc nghệ thuật của người Hán, Mãn, Mông Cổ, Tạng, Duy Ngô Nhĩ... nhằm thể hiện sự đoàn kết dung hợp văn hoá giữa các dân tộc. Đây là một việc làm hoàn toàn có chủ đích. Vua Càn Long đã nhiều lần tổ chức lễ thượng thọ tại đây để gặp gỡ, tiếp kiến và ban ân sủng cho quý tộc thân vương các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc và Nội Mông.
Với những kiến trúc được xếp vào hàng tuyệt tác cùng với những giá trị về văn hóa, lịch sử của mình, Tỵ Thử Sơn Trang và Ngoại Bát Miếu đã được Unesco công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1994. Cho đến nay, di sản này vẫn là một trong những điểm tham quan thu hút khách vào bậc nhất ở Trung Quốc.


Cũ hơn Mới hơn